[Tr] Hội chứng Marco Polo bởi Gerardo Mosquera

Văn hoá mình chắc không chỉ chịu ảnh hưởng bởi phương Tây, tuy vậy trong nghệ thuật thị giác, ảnh hưởng của phương Tây là quá rõ (Ai sinh ra các trường Mỹ thuật? Ai chi tiền cho nghệ thuật? Ai có quyền quyết định nghệ sĩ nào có tính “quốc tế”?).

Trong khi nền nghệ thuật trong nước thiếu nguồn lực, thêm nữa bây giờ Việt Nam phải ít nhiều hi sinh văn hoá cho các mục tiêu phát triển kinh tế, việc phụ thuộc này là khó tránh khỏi. Nó đem đến cả các tác động tích cực, và tiêu cực, mà qua trải nghiệm của bản thân tôi tin rằng phần tiêu cực nhiều hơn. Cả hai phía hiện đang thiếu những cách để đối thoại hiệu quả và điều này gia tăng thêm áp bức trong văn hoá, mà Mosquera gọi nó là chết chóc của văn hoá.

Mosquera gợi ý về một sự kết nối “hàng ngang”, tức giữa các nước có lịch sử tương đồng, hơn là kết nối “hàng dọc”, tức giữa các nước nhỏ và cường quốc, về mặt văn hoá. Điều này đòi hỏi nhiều nỗ lực nhưng có lẽ nên làm. Trong trường tôi sinh viên Mỹ có lẽ ít quan tâm tới vấn đề này, trải nghiệm của họ về mặt này thường không đủ để có thể nói chuyện sâu. Vì thế các kết nối hàng ngang là quan trọng, và các giá trị Mỹ sẽ phải bị xem xét lại trong các kết nối hàng ngang như vậy. 

Bài viết là hay, tuy tác giả viết quá văn hoa nên với khả năng mình tôi không thể dịch hết sang Tiếng Việt. Vì vậy tôi tự cho phép mình cắt bớt một số từ quá xoắn quẩy hoặc rườm rà không cần thiết. 

Link tới bài viết gốc MarcoPoloSyndrome


Hội chứng Marco Polo

Năm 1986, tại Habana Biennial lần thứ 2, có một tác phẩm sắp đặt bởi nghệ sĩ Cuba Flavio Graciandia có tên El Sindrome de Marco Polo. Nhiều hình ảnh mơ hồ thể hiện cuộc phiêu lưu của một nhân được yêu mến trong  truyện tranh, một vị thuyền trưởng trong cuộc chiến độc lập thế kỉ 19 và là một biểu tượng của chất Cuba. Câu chuyện kể về cuộc viễn du tới Trung Hoa, và sau đó trở về nước. Tác phẩm được vẽ dưới dạng orientalist kitsch này đặt câu hỏi một cách hài hước về những vấn đề của giao tiếp liên văn hoá . Nhân vật của câu chuyện, giống Marco Polo, là một nhà tiên phong vì những kinh nghiệm trong việc thấu hiểu về vùng đất Người Ta. Nhưng ông ta đã mất cơ hội trong việc làm cầu nối giữa hai nền văn hoá, qua sự ngờ vực của cả hai phía, đặc biệt là từ phía ông ta.

marco-polo-660.jpg
Flavio Graciandia, El Sindrome de Marco Polo

Chúng ta đã phải chờ tới tận cuối của thiên niên kỉ [trước] để phát hiện rằng chúng ta đã dính Hội chứng Marco Polo. Thứ tồi tệ từ hội chứng này là nó tiếp nhận bất kể thứ gì, mà trong đó nhiều những thứ trung gian truyền virus nguy hiểm hơn là chất bổ dưỡng. Và mặc dù nó không làm chúng ta sợ nhiều như những hội chứng lây lan diện rộng, nó đã mang rất nhiều chết chóc cho văn hoá. Chỉ đến hôm nay thì một sự hiểu biết về đa nguyên văn hoá và sự hữu ích của đối thoại mới bắt đầu nổi lên, trong chừng mực là vấn đề liên văn hoá đã trở thành đáng quan tâm.

Khả năng của một ý thức đa dạng đã được mở ra, trong đó câu hỏi về dân tộc tính và quốc gia tính đã lấp đầy những cách diễn giải thế giới mới với nhiều sắc thái. Sự thống trị lấy châu Âu làm trung tâm (Dominant Eurocentrism) –  triệu chứng chính của căn bệnh – đang được trị liệu bằng sự phê phán ngày càng có hiệu quả và ngày càng thuyết phục. Tất cả những thứ đột ngột đó đã nhắm vào nghệ thuật, trình bày nó cùng với những vấn đề khẩn cấp và rất phức tạp. Chỉ một vài trong số đó sẽ được động đến sau đây.

Khái niệm về Eurocentrism chỉ có mới đây. Trong nhân chủng học chúng ta tìm thấy một sự nhìn nhận về ethnocentrism trong thế kỉ 18 (1), và với một sự bổ sung của chủ nghĩa văn hoá tương đối của Boas trước khi thế kỉ 19 khép lại. Nhưng tận tới gần đây, ý tưởng này vẫn không thâm nhập đáng kể vào những nghiên cứu và diễn giải về văn học nghệ thuật. Những ý tưởng này tập trung vì chúng là các tiêu chí của các giá trị liên quan tới ảo tưởng về tính ‘toàn cầu’. Những đối thoại này mang tên Hậu hiện đại, với những mối quan tâm tới tính vô thường, đã dần dần sản sinh ra một thái độ tương đối hơn trong bối cảnh hiện nay so với trước kia. Một ý thức mới về dân tộc tính đang được định hình, như là một kết quả của nhiều tiến trình đang diễn ra, trong đó có quá trình giải thuộc địa, vị thế lớn hơn của Thế giới thứ ba trong trường quốc tế, những ảnh hưởng của những nhóm thiểu số trong các thành phố lớn ở các nước phát triển, và cả sự tăng trưởng thông tin và cơ sở hạ tầng trong giao thông và viễn thông. Bản thân chủ nghĩa Hậu hiện đại, như Geeta Kapur đã gợi ý, có thể được nhìn nhận như là một hậu quả chứ không phải như được miêu tả, là về ‘một thế giới được căn chỉnh lại’ cho vừa với cuộc sống của những xã hội mà trước đó đã bị cho ra rìa (2).

Eurocentrism khác với ethnocentrism. Eurocentrism không chỉ là ethnocentrism được thực hiện bởi một văn hoá cụ thể, mà còn liên quan tới một sự thật, mà rất hay bị bỏ qua, là quyền thống trị rộng khắp thế giới của văn hoá đó đã áp đặt thứ ethnocentrism của chính nó như là một giá trị phổ quát, và đã thuyết phúc chúng ta về nó trong một thời gian dài.(3)

Ở đây, chúng ta bỏ qua môi trường có lẽ vô trùng của thuyết tương đối văn hoá để chuyển qua đối diện với các vấn đề xã hội và vấn đề về quyền lực. Thực tế là, từ thời Cách mạng Công nghiệp, sự mở rộng toàn cầu của chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu làm toàn bộ thế giới vào một quá trình kinh tế trong đó Châu Âu là trung tâm, và từ lúc đó, đó là thứ đã xác định hướng đi của hành tinh. Siêu văn hoá phương Tây [Western Metaculture] xác lập sự chính đáng của nó qua thuộc địa hoá, đô hộ và thậm chí qua sự cần thiết phải vận hành nó để xử lí những tình tế mới xảy ra trong lòng nó. Ngay cả khi vậy, Amilcar Cabral vẫn nói rằng sự đô hộ đế quốc “không chỉ là một thực tế tiêu cực”, và rằng “nó đã đưa thế giới những thế giới mới” (4) Sự hiện đại có đầy những ý định tốt, đã đóng góp không nhỏ cho cuộc cách mạng văn hoá của hành tinh này, mặc dù Adorno, Horkheimer và Huyssen đã liên hệ những mặt tiêu cực của nó với chủ nghĩa đế quốc (5)

Ethnocentrism luôn luôn gợi ra một sự phù phiếm ngây thơ của một người dân làng mà, như Jose Marti đã nói, luôn chắc mẩm rằng cả ‘thế giới là chính cái làng của anh ta’, với niềm tin rằng tất cả mọi thứ đều đã sinh ra tại đây ngay cả khi giả dụ chúng được áp đặt cho anh ta qua sự chinh phạt. Eurocentrism là dạng ethnocentrism duy nhất được phổ biến toàn cầu thông qua sự thống trị hiện nay bởi một siêu văn hoá, và là dạng ethnocentrism duy nhất dựa trên một chuyến biến sát thương cao của thế giới qua các tiến trình kinh tế, văn hoá, và chính trị tập trung quanh trong một phần nhỏ của nó. Kết quả là, nhiều thành phần của thứ siêu văn hoá này thôi không còn có tính ‘dân tộc’ nữa, mà đã được quốc tế hoá như là những thành tố cơ bản của một thế giới được định hình bởi sự phát triển của phương Tây. Nhưng nếu những thành tố này là không thể chối từ như vậy, vậy cái đòi hỏi phải kết thúc cái sự thiếu tận tâm, giới hạn, nhàm chán và bất công của việc xây dựng thế giới như con đường một chiều cũng thế.

Chính sự trỗi dậy của ý tưởng Eurocentrism đã đem đến ý thức của cái bẫy đơn cực văn hoá trong đó tất cả chúng ta đều thấy bị mắc phải. Tôi nói tất cả vì Eurocentrism ảnh hưởng không chỉ tới những văn hoá không thuộc phương tây, mà còn ảnh hưởng chính phương tây nữa, chính vì sự thiếu thốn về quan điểm vốn có trong mọi hệ thống nhất nguyên. Bi kịch là ý tưởng về Eurocentrism cũng được đẻ ra ở phương Tây, mặc dù, như Desiderio Navarro đã chỉ ra, nó đang bắt đầu được hình thành, đặc biệt là ở Đông Âu,(6) vì những vùng rìa như vậy tiếp xúc gần hơn với các quốc gia không thuộc Châu Âu.(7) Chủ nghĩa thực dân đã tạo ra một vết cắt, nơi mà những quốc gia không thuộc phương Tây cân nhắc các vấn đề của văn hoá của họ trong bối cảnh các truyền thống bị cô lập khỏi bối cảnh đương thời, cùng lúc đó họ du nhập những thứ đó từ Phương Tây, mà không tạo một mối liên hệ có khả năng chuyển hoá chúng thành những thứ có lợi cho lợi ích và giá trị của họ, trong bối cảnh toàn cầu đang tồn tại hiện nay. (8) Điều này đã bắt đầu thay đổi. Sơ bộ ta có thể tóm tắt có ba động cơ. Thứ nhất những văn hoá mà chùng ta hiện nay coi là truyền thống đã bị ‘đóng băng’ bởi sự bành trường của phương Tây, thứ đã mang lại một tương lai, trong quan điểm của nó, một sự phát triển li tâm vĩ đại của nghệ thuật và khoa học từ thế khỉ 18, được gọi chung dưới cái mác ‘phổ quát’. Thứ hai, sự nhận ra bởi một phe trong giới học giả phương Tây về sự vô lí của thực trạng. “Không có lấy một cái Ibn trong chỉ mục của Lí thuyết Văn học!” Rene Etiemble kêu lên hùng hồn, bằng cách ấy đã hạ bệ những tác phẩm kinh điển của Wellek và Warren(9). Thứ ba, chủ nghĩa chống-Eurocentrism từ những khu vực không thuộc châu Âu đã bắt đầu được tổ chức.

Điều này không có nghĩa là một sự quay lại với trạng thái trước sự toàn cầu hoá bắt nguồn từ phương tây, mà là sự xây dựng của một văn hoá đương đại – thứ có khả năng hành động trong thực tế ngày nay – từ một tập hợp các quan điểm khác nhau. Sự phát triển này là một vấn đề cấp bách, vì chúng ta đang có nguy cơ rằng phương Tây, tách biệt khỏi tất cả những thứ khác, có thể sẽ đưa cho Thế giới thứ 3 một triết học về trao đổi đa văn hoá và một sự phê phán về Eurocentrism. Đúng là một sự tự phê phán, mặc cho có thiện chí và giá trị không thể tranh cãi, sẽ tiếp tục duy trì sự sai lạc được sản sinh từ góc nhìn đơn chiều của nó và nền nếp quyền lực đang tồn tại.

Những mối quan tâm có tính hậu hiện đại lên Người ta đã mở ra một số không gian cho một bộ máy “nghệ thuật cao cấp” cho những văn hoá địa phương và văn hoá không thuộc phương tây. Nhưng cùng lúc điều này cũng đã gây nên một cơn khát về một thứ ngoại lai lạ mắt, cái chuyên chở của hoặc một Eurocentrism bị động hoặc thứ cấp, thứ mà thay vì phổ quát hoá các mô thức của nó [từ trung tâm ra vùng ngoại vi], lại đi điều chỉnh một số sản xuất văn hoá từ vùng ngoại vi theo tiêu chuẩn được kì vọng để được tiêu thụ ở trung tâm. Các giám tuyển Châu Mỹ Latin, cùng nhiều nghệ sĩ, nhà phê bình có vẻ khá là muốn được trở thành Người ta cho phương Tây ngắm nhìn.

Vấn đề về Eurocentrism và mối liên quan giữa những văn hoá khác nhau là đặc biệt phức tạp trong nghệ thuật thị giác ngày nay, nơi Hội chứng Marco Polo tiềm ẩn một con dao hai lưỡi. Nếu Nghệ thuật, trong quan niệm ngày nay, là một hoạt động tự chủ và tự thoả mãn dựa trên thẩm mỹ, thì cũng là một sản phẩm mà phương Tây xuất khẩu cho nơi khác. Định nghĩa đầy đủ của nó cũng chỉ mới đây thôi, không xa hơn cuối thể kỉ 18. Truyền thống thẩm mỹ của các văn hoá khác, chẳng hạn thứ của phương Tây trong các thời đại trước đó, là một dạng sản xuất khác, được xác định bởi các chức năng tôn giáo, minh hoạ hoặc tưởng niệm, đại loại vậy. Nghệ thuật ngày nay trong những văn hoá đó không phải là một kết quả của một sự tiến hoá từ thẩm mĩ truyền thống: cái ý tưởng đó đã nhận được từ phương Tây qua sự đô hộ.

Điều này sản sinh ra nhiều mâu thuẫn và đem đến hậu quả tai hại của việc phụ thuộc vào, và bắt chước các trung tâm. Nhưng nó cũng tạo thành một phần của thử thách trong thời hậu thuộc địa, vì văn hoá của chúng ta không nên tự đóng chặt trong việc cô lập các truyền thống nếu chúng muốn tham gia vào sự vận động ngày nay và tự cung cấp giải pháp cho vấn đề. Trái lại, thứ nên làm là làm cho những truyền thống vận hành được trong thời đại mới. Không phải là bảo quản chúng, mà là thích nghi mạnh mẽ với thời đại mới. Câu hỏi là làm thế nào chúng ta có thể cũng tạo ra nghệ thuật đương đại từ những giá trị, sự nhạy cảm và các mối quan tâm của chúng ta. Quá trì giải Eurocentrism trong nghệ thuật không phải là quay trở về với sự nguyên sơ, mà là thích ứng sự không nguyên sơ hậu thuộc địa qua đó chúng ta có thể giải phóng chúng ta và thể hiện suy nghĩ của chúng ta.

Một trường hợp hình mẫu của những sự phức tạp trên có thể xem ở nghệ sĩ Cuba Jose Bedia. Xuất thân bình dân, mắt xanh da trắng, ông thực hành palo monte, một phức hợp của tôn giáo và văn hoá Afro-Cuban có nguồn gốc từ Congo. Nghiên cứu sinh và cựu giảng viên của Instituto Superior de Art de La Habana, Bedia là một nghệ sĩ phương tây tinh tuý có cái nhìn đầy đủ, kiếm soát nhiều nguồn lực đa dạng. Nhưng những tác phẩm có thiên hướng ý niệm của ông, trong nội dung hơn là trong ngôn ngữ thể hiện, phần lớn dựa vào thế giới quan của Congo vẫn còn tồn tại ở Cuba, một kết quả của những quan tâm của ông đối với suy nghĩ ngày nay về con người có nguồn gốc từ thế giới quan của Congo. Tác phẩm của ông, một cách thông thái, lợi dụng những nguồn lực và sự cảm nhận đến từ những trung tâm nghệ thuật đương thời, để đối diện với chúng ta với một cái nhìn khác. Ý tưởng về sự đồng bộ này cũng xảy ra ở kĩ thuật của ông, tích hợp các yếu tố kĩ thuật, tự nhiên và văn hoá mà không hề khiên cưỡng, từ vẽ tay cho đến nhiếp ảnh, từ các đồ vật lễ nghi cho đến bình dân đại chúng, tất cả đều nằm trong sự tỉnh táo của  một đối thoại có tính phân tích. Ông cũng hợp lí hoá các kĩ thuật “nguyên thuỷ”, nhưng không nhằm tái sinh sản ra quy trình đó, mà ông tạo ra các thành phần với các kĩ thuật đó mà đã hoạt hoá đối thoại và biểu tượng cá nhân. Bedia đã tạo ra văn hoá phương Tây từ những nguồn gốc không phương Tây, và như vậy đã chuyển hoá nó tới một sự giải Europeanization của văn hoá đương đại. Nhưng cùng lúc chúng ta có thể nói rằng ông đã tạo ra văn hoá hậu hiện đại Congo. Bên cạnh đó, ông tự cởi mở với những văn hoá được gọi là ‘nguyên thuỷ’ trong thứ mà ông đã gọi là một quá trình xuyên-văn-hoá tự nguyện trong chiều đảo ngược: từ nền giáo dục ‘nghệ thuật cao cấp’ cho đến nghệ thuật nguyên thuỷ.(10) Mặc dù đây là một quá trình trí tuệ, nó cũng thâm nhập vào nghệ sĩ, khi xét đến phông văn hoá pha giữa Tây Ban Nha và Da Đỏ của ông.

Hội chứng Marco Polo là một chứng bệnh phức tạp thường che đậy các triệu chứng. Cuộc đấu tranh chống Eurocentrism không nên chất lên nghệ thuật với một cái ảo tưởng về tính nguyên bản (authenticity) mà, một cách mâu thuẫn, có thể tăng thêm sự phân biệt đối xử mà nghệ thuật Thế giới thứ ba đang phải chịu đựng trong các hệ thống toàn cầu. Ảo tưởng này ngăn cản sự nhìn nhận nó như là một sự phản ứng sống động đối với các mâu thuẫn và sự lai ghép hậu hiện đại, và thay vào đó, đòi hỏi tính ‘gốc gác’ (originality) được định nghĩa thuận theo truyền thống  và văn hoá xưa cũ tương đồng với một tình hình đã qua lâu lắm rồi. Có lí hơn là phân tích nghệ thuật ở một nước nào đó, hoặc vùng nào đó thoả mãn như thế nào những đòi hỏi về thẩm mĩ, văn hoá, xã hội và giao tiếp của cộng đồng mà từ đó và cho nó nghệ thuật được làm. Sự phản ứng của nó thường là lai tạp, tương quan, có tính vay mượn, ít nguyên bản và do đó chính xác hơn để đối mặt với thực tế ngày nay.

Một trong những định kiến sặc mùi Eurocentric trong phê bình và lịch sử nghệ thuật là sự hoàn toàn đánh giá thấp sự sản xuất [ít nguyên bản] này như là sự “nhái lại” của phương Tây. Nghệ sĩ từ Thế giới thứ ba luôn luôn bị đòi hỏi phải thể hiện bản sắc của mình, phải trở nên ảo diệu, phải trông không giống ai hoặc phải giống Frida [Kahlo] … Những cái giá tương đối cao cho nghệ thuật Mỹ Latin ở chững phiên đấu giá lớn đã được trao tặng cho những hoạ sĩ thoả mãn được những kì vọng của, dù ít hay nhiều, một khuôn mẫu Mỹ Latin, có khả năng thoả mãn những đòi hỏi tại những trung tâm về một món hàng từ Người ta. Hậu quả là, Rivera được định giá cao hơn Orozco, Remedios Varo hơn Torres Garcia, và Botero hơn đáng kể Reveron (11) Trong các trường hợp khác, mọi thực hành đương đại đều bị coi là giả dối. Hãy xem ý kiến của một nghệ sĩ thuộc phải Châu Phi nổi danh ‘Nghệ thuật Châu Phi chính tông là thứ được sản xuất bởi nghệ sĩ truyền thống, cho mục đích truyền thống và thuận theo các dạng thức truyền thống’(12)

Trong cái nhìn này, Châu Phi phải là truyền thống, không phải là hiện tại. Một thái độ chống Eurocentrism như thế này đóng băng toàn bộ các văn hoá Châu Phi, hạ bệ các văn hoá này cho vào các bảo tàng, mà không cần hiểu rằng chúng là một cơ thể hữu cơ mà luôn luôn cần tương tác tích cực với sự thực của thời đại chúng. Nếu chúng ta phải ăn thua đủ với chủ nghĩa thực dân, thứ đã làm tuyệt giống nghệ thuật đương đại của Thế giới thứ ba, chúng ta không nên làm điều đó qua sự hoài niệm về cái mặt nạ hoặc cái kim tự tháp.

Chủ nghĩa tương đối cực đoan cũng góp thêm cho một mối nguy khác. Có một câu chuyện rằng một ngôi làng có thể thờ ơ về những thứ xảy ra trong cái làng kế bên, nhưng lại thuộc lòng những gì đang xảy ra ở New York. Bất kì ai đã một lần du hành duyên Châu Phi đều biết rằng thường cách dễ nhất để đi từ nước này đến nước khác là vòng qua Châu Âu. Một trong những vấn đề trầm kha nhất của nam bán cầu là sự thiếu hợp lực trong nội bộ và những giao tiếp theo chiều ngang [về mặt địa lý], tương phản với giao tiếp trục dọc và cũng là trong vị thế thấp hơn với phương Bắc. Những văn hoá ở phương Nam, rất đa dạng, đối mặt với vấn đề chung có từ cái thế hậu thuộc địa, và điều này đã xác định những tương đồng về mặt cấu trúc trong bàn cờ. ‘Nói về Thế Giới thứ ba và kể luôn vào đó Colombia, Ấn độ và Thổ Nhĩ Kì’(13) là một sự tu từ vì đã bỏ qua thứ đã liên hợp chúng, trong mối đối đầu của chúng với quyền lực thống trị, ngay cả nếu điều đó chỉ là nghèo đói (14) Những văn hoá trên đang cần một cách cấp bách biết và nghĩ về nhau, trao đổi kinh nghiệm, và tham gia vào các dự án chung. Một quan niệm căn bản về thuyết tương đối không nên làm trầm trọng thêm sự cô lập, ngăn cách họ với những nỗ lực của chúng ta để tiếp cận Người ta, và học hỏi từ họ, kể cả những thứ mà chúng ta không thích, như Venturi nói. Nếu hậu hiện đại đặt tính Người ta lên trước tiên, nó làm việc đó qua một quá trình phân biệt vô hạn thứ đã triệt tiêu ngay cả sự cần thiết của chọn lựa (15). Chiến thuật của những người bị thống trị chuyển theo hướng tích hợp qua thứ hợp nhất họ, và kích hoạt những sự khác biệt của họ ‘khi đối mặt với sự thống trị của hậu hiện đại trên thế giới’ (16) Chủ nghĩa South-South Robinsonism chỉ hưởng lợi từ các trung tâm bằng cách củng cố vững chắc North-South verticalism. Nếu sự biên dịch của một văn hoá sang văn hoá khác trong mọi mặt là có thể, điều này không nên ngăn cản khả năng của những sự gần gũi chung, làm giàu và đoàn kết. Jorge Luis Borges nói rằng Quixote vẫn đang thắng những trận đấu với những nhà phiên dịch của ông ta.(17)      

Huyền thoại về một giá trị phổ quát toàn cầu trong nghệ thuật, và sự xác lập một hệ thống phân cấp các tác phẩm dựa vào tính phổ quát này, là một trong các di sản của Eurocentrism đang tiếp tục sống sót, dù mặc dù chúng ta đang trở nên bớt ngây thơ đối với tính phổ quát, thứ đã quá nhiều là [văn hoá] phương Tây trá hình. Nhưng điều này không nên bất hiệu sự đón nhận của chúng ta đối với một tác phẩm bên ngoài hoá hoá tạo ra tác phẩm đó; ngay cả khi sự đón nhận là ‘không chuẩn xác’(18) điều đó vẫn có thể sản sinh ra ý nghĩa mới. Nghệ thuật được kết nối chặt chẽ với sự đặc tính văn hoá, nhưng sở hữu khả năng đa nghĩa mơ hồ, mở ra nhiều khả năng diễn giải khác nhau. Chúng ta đang sống trong ‘một thời kì lai tạp vĩ đại’, như một ngôi sao nhạc rock Mexico đã hát, thứ mang lại một thử thách bất bình thường bằng việc tái biên dịch hơn là từ chối sự phụ thuộc vào hệ thống lớn. Trong các trải nghiệm đương thời, sự bối cảnh hoá, tái sử dụng, hợp thức hoá và tái chuyển nghĩa nhận được càng nhiều quyền lực như là một hệ quả của những tương tác được tăng cường giữa các văn hoá.

Phê phán Eurocentrism góp phần tạo nên một nhận thức mới về dân tộc, sự kết tinh của thứ sẽ cảm thấy, lần đầu tiên, khả năng của một đối thoại toàn cầu giữa các văn hoá, ngõ hầu điều chế một thuốc giải cho Hội chứng. Tuy vậy, trong nghệ thuật thị giác, rất ít nỗ lực đã được đầu tư theo hướng này. Sự sản xuất đương đại, phi truyền thống, từ phương Nam chỉ tìm thấy một số ít đầu ra. Loại trừ các trung tâm lớn và được cho là các hệ thống quốc tế, sự hiện diện trong các triển lãm kiểu như ‘Primitivism’ trong nghệ thuật TK 20 hoặc Magiciennes de la terre [tạm dịch Những ảo thuật gia của đất] là không đáng kể, mặc cho sự thật là lẽ ra nó có thể đóng góp rất nhiều hơn thế, đặc biệt bằng việc làm sâu và vấn đề hoá quan điểm của chúng.(20) Quang cảnh nghệ thuật đương đại là một hệ thống hết sức trung tâm của sự phân biệt chủng tộc Apartheid (21) Hơn cả bị Eurocentric, đó là Manhattan-centric. Nhưng, tôi kiên định, thanh ba ri e không chỉ có Nam-Bắc do mối quan hệ quyền lực Trung tâm-Ngoài rìa, mà còn là Nam-Nam, như là một hệ quả của biến đổi hậu thuộc địa.

Mặc dù các cấu trúc này đã bị biến đối, những sự độc đoán từ trung tâm và sự áp đặt các phán quyết về nghệ thuật, sự đa dạng hoá của các hệ thống nghệ thuật đụng độ với những khó khăn của các định lượng liên văn hoá đã chỉ ra. Các nhà phê bình, giám tuyển, và sử gia có một trọng trách lớn theo cách này. Trích Harold Rosenberg, chúng ta nên nhận ra rằng con đường đi tới một sự định lượng liên văn hoá của tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một câu hỏi về việc nhìn, mà còn là việc nghe. Nên thận trọng đánh giá tác phẩm nghệ thuật vận hành ra sao trong bối cảnh của nó, những giá trị gì được ghi nhận ở đây, và sự nhạy cảm nào chúng thoả mãn, quan điểm nào chúng mở ra, và nó đóng góp điều gì… Chỉ khi sau một hiểu biết thông suốt như vậy chúng ta sẽ nhận ra những thông điệp của mối quan tâm rằng nghệ thuật có thể giao tiếp với công chúng được nhắm đến bởi các triển lãm, và nó có thể đóng góp thế nào cho một sự giàu có chung. Biết rằng nó đã được chứng minh rằng vai trò của người xem là nền tảng trong nghệ thuật và văn học, điều đó không có nghĩa một người chỉ nhìn từ bản thân người đó và từ hoàn cảnh người đó, mà còn rằng tiếp nhận là chủ động và như vậy có thể được mở rộng.

Vấn đề nền tảng của các triển lãm và văn bản mới một ngữ nghĩa liên văn hoá là giao tiếp. Một mặt để thông tin và đưa bối cảnh, mặt khác để định hướng tới những gì hấp dẫn người tiếp nhận mới. Như là các người hoà giải, họ nên chấp nhận thoả hiệp, nhưng cần một nỗ lực để chống các loại centrism và những kì vọng sáo mòn. Nói thì dễ, nhưng thực tế chúng ta ở xa với việc có những giải pháp kiểu mẫu.

Bên cạnh sự giải trung tâm đa trung tâm, đa dân tộc, một vấn đề cuối cùng là sự phá bỏ Eurocentrism đòi hỏi một sự sửa đổi từ đa nguyên bình đẳng về văn hoá phương Tây. Khi Robert Farris Thompson giao cho Fu-Kiau Búneki, một chuyên gia về Kongo truyền thống, việc bình luận về những bức tranh có tính Phi Châu của Picasso(22), ông đã không chỉ đơn giản có một hành động giải cấu trúc ngược sự hợp thức hoá điêu khắc châu Phi vào chủ nghĩa hiện đại [Phương Tây], và làm cho lưu loát hơn những ingenuity về những mối quan tâm tới tính phổ quát. Ông cũng mở ra một quan điểm có phương pháp và đa nguyên. Không chỉ trong cảm giác về sự giải thích uyên bác về Châu Phi truyền thống qua việc những người khác đã bị ảnh hưởng bởi nó. Những phân tích của Bunseki đã làm sâu thêm sự thưởng thức của chúng ta về những tác phẩm đó, và thận chí về cả quan điểm của phương tây. Chủ nghĩa lập thể đã cách mạng hoá văn hoá thị giác của phương tây bằng việc hợp thức các nguồn tư liệu hình thức từ Châu Phi. Nhưng các hình thức này không trôi nổi tự do, chúng được thiết kế để chuyên chở những ý nghĩa cụ thể thứ mà trên một bình diện chung chung, có thể hoạt động trong hệ thống mã hoá của hội hoạ Picasso. Những hình thức này thuộc về một thế giới quan vũ trụ mà những nền tảng nhận thức của nó tiếp tục hiện diện trong thế giới quan mới bởi nó những hoạ sĩ lập thể chuyển hoá hội hoạ phương Tây, ngay cả khi không hiểu về chức răng và ý nghĩa của những hình mẫu châu Phi này.

Sự liên đới liên văn hoá không chỉ bao gồm việc chấp nhận Người ta như một nỗ lực để hiểu họ và làm giàu cho ta bằng sự đa dạng của họ. Nó còn ám chỉ rằng Người ra cũng làm điều đó với ta, vấn đề hoá sự tự nhận thức của ta. Thuốc chữa cho Hội chứng Marco Polo bao gồm vượt qua các thể loại centrism vơi sự khai sáng đến từ rất nhiều nguồn khác nhau.     

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s